Tìm kiếm:
Tính chỉ số dinh dưỡng
(Đối với người trưởng thành)
 
Cân nặng kg
Chiều cao met
Kết quả BMI
Đánh giá
 

Đăng kí nhận Email




Thứ tư - 11 /Tháng 12/2019

Trang chủ    >>   

Dinh dưỡng và lao động thể lực

[11 / 05 / 2009]

Phân chia lao động ra hai loại lao động trí óc và chân tay thật ra không hợp lý với trình độ cơ khí hoá ngày càng cao, nhiều loại lao động gọi là chân tay đã trở thành trí óc, tiêu hao rất ít năng lượng, ngược lại nhiều người làm việc trí óc lại có nếp sống rất hoạt động tiêu hao nhiều năng lượng.


Hai loại hiện tượng sau đây làm cơ sở cho nguyên tắc dinh dưỡng những người lao động.
Một mặt sinh lý học và sinh hoá học đã xác nhận rằng thức ăn của cơ là glucoza. Cơ mất năng lượng trong quá trình thoái hoá kỵ khí (nghĩa là không có oxy) glycogen thành axit lactic. Cơ lấy lại năng lượng đã mất nhờ oxy hoá axit lactic thành CO2 và nước. Như vậy cần cung cấp gluxit cho cơ trong lao động và ở những người lao động gắng sức, đường có tác dụng rõ rệt.
Mặt khác, lượng protein trong khẩu phần người lao động luôn luôn cao hơn ở người nhàn rỗi, đây nói đến tăng số lượng tuyệt đối vì tỷ lệ phần trăm năng lượng do protit cung cấp vẫn không thay đổi khi tổng số năng lượng tăng lên. Nhiều nghiên cứu sinh lý cho thấy ở khẩu phần nghèo protit, lực của cơ nhất là khả năng lao động nặng giảm rõ rệt. Đó là do protein tuy không có những tác dụng tức thì đến lao động cơ nhưng chúng đã có tác dụng thông qua trung gian của hệ thống nội tiết và thần kinh thực vật để duy trì một trương lực cao hơn. Vì thế, thức ăn của cơ là glucoza nhưng khẩu phần người lao động cần có lượng protein tương ứng từ 10 đến 15% tổng số năng lượng.

1. Nguyên tắc đầu tiên của dinh dưỡng hợp lý ở người lao động là đáp ứng nhu cầu năng lượng.

Tiêu hao năng lượng của người lao động thay đổi tuỳ theo cường độ lao động, thời gian lao động, tính chất cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất.

Tuỳ theo cường độ lao động, người ta chia ra:

- Lao động nhẹ: 120 - 240 calo/giờ.

- Lao động trung bình: 240 - 360 calo/giờ.

- Lao động nặng: 360 - 600 calo/giờ.

Theo dõi cân nặng là cần thiết để biết xem chế độ dinh dưỡng có đáp ứng nhu cầu năng lượng hay không. Cân nặng giảm là biểu hiện của chế đô ăn thiếu năng lượng, cân nặng tăng là biểu hiện của chế độ ăn vượt quá nhu cầu năng lượng. Chúng ta nên nhớ rằng ở những cơ thể thiếu năng lượng trường diễn (chỉ số khối BMI quá thấp) thì trước hết nên đưa tới cân nặng "nên có" rồi duy trì ở mức đó là thích hợp.

2. Nguyên tắc thứ hai là chế độ ăn phải đáp ứng đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng:

- Về protein: Chưa có các công trình nào nói rằng ăn càng nhiều protein thì lao động càng tốt. Như trên đã nói, trong khẩu phần người lao động cần có tỷ lệ 10 - 15% nặng lượng do protein. Như vậy khi tăng tiêu hao năng lượng thì số lượng protein trong khẩu phần sẽ tăng theo. Tỷ lệ protein nguồn gốc động vật nên đạt 50 - 60% tổng số protein.

- Về lipit và gluxit: Năng lượng trong khẩu phần chủ yếu do gluxit và lipit cung cấp. Chúng ta biết rằng 1g lipit khi chuyển hoá trong cơ thể cho 9 calo trong khi đó 1g gluxit chỉ cho 4 calo. Vì thế ở các loại lao động nặng, để thoả mãn nhu cầu năng lượng người khuyên nên tăng tỷ lệ chất béo lên để khẩu phẩn không quá cồng kềnh. Nhưng cũng có nhiều người lo ngại rằng một số chế độ ăn nhiều lipit, nhât là lipit động vật kéo dài sẽ là yếu tố nguy cơ của xơ mỡ động mạch. Do đó người ta khuyên rằng chế độ ăn tăng lipit chỉ áp dụng trong thời gian lao động có tiêu hao năng lượng cao còn sau đó thì nên trở về chế độ ăn bình thường. Ở nước ta, Viện dinh dưỡng đã đề nghị như sau:

- Protit: 12% nhu cầu năng lượng.

- Lipit: 15 - 20% nhu cầu năng lượng.

- Gluxit: 65 - 70% nhu cầu năng lượng.

- Vitamin và chất khoáng:

+ Các vitamin tan trong chất béo không thay đổi theo cường độ lao động, tiêu chuẩn giống như ở người trưởng thành, lao động bình thường.

Các vitamin tan trong nước (nhóm B, C), nhất là các vitamin tan nhóm B nói chung tỷ lệ với năng lượng khẩu phần. Cũng cần tăng vitamin nhóm này khi lao động ở môi trường nóng mồ hôi ra nhiều. Chúng còn thay đổi tuỳ theo cấu trúc của bữa ăn. Nhiều trường hợp chỉ lo tăng năng lượng của khẩu phần (bồi dưỡng giữa ca bằng bánh kẹo ngọt) mà không kèm theo tăng cân đối các vitamin nên đã gây nên các hiện tượng thiếu vitamin B1 hay niaxin. Đó là điều cần chú ý.

Một số nghiên cứu nói đến tác dụng tốt của một số vitamin ở liều cao đối với năng suất lao động và chống mệt mỏi. Xét đến vai trò sinh lý của vitamin B1 đối với chuyển hoá năng lượng và sử dụng gluxit thì nên áp dụng một lề an toàn khá rộng về vitamin này ở những người lao động nặng và thông qua một chế độ ăn hợp lý. Việc áp dụng một liều cao vitamin này là không cần thiết và không sinh lý.

+ Nhu cầu các chất khoáng nói chung giống như người trưởng thành.

3. Nguyên tắc thứ ba là thực hiện một chế độ ăn hợp lý, cụ thể là:

- Bắt buộc ăn sáng trước khi đi làm: điều này nói dễ mà làm khó. Do nhiều lý do nhiều bạn trẻ trước khi đi làm mang cái bụng đói hoặc điểm tâm bằng vài chén rượu với mấy củ lạc. Điều này rất nguy hiểm. Tình trạng giảm đường huyết trong khi lao động có thể gây ra những tai nạn nhất là khi làm việc trên cao

- Khoảng cách giữa các bữa ăn không quá 4 -5 giờ. Nhiều khi do chế độ làm ca kíp thông tầm, người ta có tổ chức các bữa ăn bồi dưỡng giữa giờ. Cần chú ý đây là những bữa ăn tuy nhẹ nhưng phải cân đối chứ không phải chỉ giải quyết nhu cầu về năng lượng. Tránh cho bữa ăn giữa giờ quá nặng gây buồn ngủ.

- Nên cân đối thức ăn ra các bữa sáng, trưa, tối và đảm bảo sự cân đối trong từng bữa ăn.

4. Rượu và lao động:

Tuổi trẻ vẫn thách nhau dùng tửu lượng để so sánh xem ai đáng mặt "nam nhi" và ai đã qua tuổi thanh niên chắc không quên những buổi chén chú chén anh, vui cuộc say trong những lần liên hoan gặp gỡ.

Thế nhưng đối với người lao động thì uống rượu là điều không được phép khi bước vào ngày làm việc. Nhiều tai nạn đáng tiếc, thậm chí chết người xảy ra do rượu. Càng không thể tha thứ đối với nguời lái xe. Vì uống rượu mà gây tai nạn xe cộ gây thảm hoạ cho nhiều người, nhiều gia đình.



( Theo Dinh dưỡng )
Tin khác
Time = 00:01